Theo dõi tâm trạng có thực sự hiệu quả? Bằng chứng

Điểm lại thành thật bằng chứng về các ứng dụng theo dõi tâm trạng – điều gì hiệu quả, điều gì không, và khi nào việc tự theo dõi có thể phản tác dụng.

Hình minh họa nghiên cứu về theo dõi tâm trạng

"Theo dõi tâm trạng có hiệu quả không?" là một câu hỏi sai. Câu trả lời thành thật phụ thuộc vào kiểu theo dõi nào, gắn với kiểu can thiệp nào, trong tay ai. Nền nghiên cứu là có thật, nhưng nó hẹp hơn và dè dặt hơn lời quảng cáo trên phần lớn ứng dụng.

"Theo dõi tâm trạng" thực sự có nghĩa là gì

Hai thứ thường bị trộn lẫn dưới cùng một cái tên. Thứ nhất là tự theo dõi: một người ghi lại trạng thái cảm xúc của chính mình, thường là hằng ngày, cho mục đích của riêng họ, để nhận ra mẫu hình, lên kế hoạch quanh chúng, hoặc mang dữ liệu tới cho nhà trị liệu. Thứ hai là việc thu thập dữ liệu bởi nhà lâm sàng hoặc nhà nghiên cứu: lấy mẫu có cấu trúc (thường gọi là đánh giá tức thời trong đời sống, hay EMA) dùng để đo triệu chứng trong nghiên cứu và trong chăm sóc lâm sàng. Phần lớn bằng chứng chất lượng cao nằm ở loại thứ hai, và hệ quả cho loại thứ nhất chỉ mang tính một phần.

Sự phân biệt này quan trọng vì EMA đã được kiểm định như một phương pháp đánh giá. Bài tổng quan năm 2009 của Trull và Ebner-Priemer trên Psychological Assessment cho thấy việc lấy mẫu lặp lại ngay tại khoảnh khắc nắm bắt được những mẫu hình cảm xúc mà hồi tưởng bóp méo một cách có hệ thống.3 Đó là một phát hiện mạnh. Tự nó, nó không có nghĩa là hành động ghi lại tâm trạng làm bạn thấy khá hơn. Hai câu hỏi được trả lời riêng.

Các thử nghiệm cho thấy điều gì có tác dụng

Tín hiệu rõ nhất nằm ở rối loạn lưỡng cực. Thử nghiệm MONARCA I (Faurholt-Jepsen và cộng sự, 2015, Psychological Medicine) phân ngẫu nhiên 78 bệnh nhân vào sáu tháng tự theo dõi hằng ngày qua điện thoại so với chăm sóc tiêu chuẩn.2 Triệu chứng trầm cảm tự báo cáo giảm nhiều hơn đáng kể ở nhóm theo dõi. Điểm vướng: kết cục chính được định trước của thử nghiệm (điểm trầm cảm và hưng cảm do nhà lâm sàng chấm, tính gộp) không đạt ý nghĩa thống kê, chủ yếu vì điểm hưng cảm gần như không dịch chuyển. Vậy nên kết luận tiêu đề là có thật nhưng cụ thể: ở bệnh nhân lưỡng cực, việc tự theo dõi hằng ngày có cấu trúc làm giảm triệu chứng trầm cảm tự chấm trong sáu tháng, trong khi để nguyên phần lớn triệu chứng hưng cảm. Công trình trước đó của cùng nhóm1 cho thấy các tín hiệu hành vi ghi bằng điện thoại (mẫu gọi điện, mức hoạt động) tương quan với mức độ nặng của triệu chứng do nhà lâm sàng chấm, và chính điều đó đã cho phép thử nghiệm ra đời.

Với sức khỏe tâm thần cộng đồng nói chung, thử nghiệm ngẫu nhiên năm 2018 của Bakker, Kazantzis, Rickwood và Rickard trên Behaviour Research and Therapy so sánh ba ứng dụng điện thoại với một nhóm danh sách chờ, gồm 226 người tham gia.4 Những ứng dụng có thành phần kiểu CBT (theo dõi tâm trạng cộng với bản ghi suy nghĩ, lời nhắc kích hoạt hành vi và gán nhãn cảm xúc) tạo ra cải thiện đáng tin cậy, mức khiêm tốn, trên điểm trầm cảm và lo âu sau một tháng, với hiệu ứng còn giữ ở mốc ba tháng. Đóng góp chính của thử nghiệm là cho thấy các thành phần quan trọng hơn bản thân việc theo dõi. Những ứng dụng yêu cầu người dùng làm gì đó với dữ liệu vượt trội hơn những ứng dụng chủ yếu chỉ ghi lại.

Các thử nghiệm cho thấy điều gì không có tác dụng, hoặc còn chưa rõ

Chỉ theo dõi thôi, không có lời nhắc hành động dựa trên dữ liệu, thì bằng chứng yếu. Bài tổng quan năm 2017 của Schueller, Aguilera và Mohr về các can thiệp tức thời trong đời sống trên Depression and Anxiety tóm tắt lĩnh vực này một cách thẳng thắn:5 phần lớn nghiên cứu cho hiệu ứng nhỏ, mẫu nhỏ, thời gian theo dõi ngắn, tỷ lệ rơi rụng cao, và các kết quả âm tính không được công bố gần như chắc chắn làm văn liệu lệch lên trên. Những can thiệp hiệu quả nhất là những can thiệp kết hợp việc đánh giá với các lời nhắc chủ động ngay tại khoảnh khắc (một kỹ năng ứng phó, một gợi ý hành vi) chứ không phải chỉ ghi nhận.

Còn có một giới hạn logic cơ bản. Gọi tên một mẫu hình không giống với sửa nó. Biết rằng Chủ nhật thì tệ và buổi sáng trước các cuộc họp còn tệ hơn cho bạn thông tin; sự thay đổi vẫn phụ thuộc vào việc bạn làm gì với thông tin đó. Văn liệu về thay đổi hành vi đã nói rõ điều này suốt nhiều thập niên, và các ứng dụng theo dõi tâm trạng không thoát khỏi nó.

Khi việc theo dõi có thể phản tác dụng

Tự theo dõi không phải không có tác dụng phụ. Văn liệu về EMA và sự nghiền ngẫm ghi nhận rằng yêu cầu những người vốn hay nghiền ngẫm phải liên tục tập trung vào trạng thái bên trong có thể kéo dài, chứ không phá vỡ, vòng nghiền ngẫm. Bài tổng quan của Schueller nêu rõ rủi ro này.5 Hai mẫu hình liên quan:

Kiểm tra quá mức. Cùng bộ máy thúc đẩy việc kiểm tra triệu chứng cưỡng bức trong lo âu bệnh tật có thể bám vào việc theo dõi tâm trạng. Vài mục ghi mỗi ngày, so sánh với các mục ghi cũ, sợ hãi khi mở ứng dụng: đến lúc đó, công cụ đang sinh ra vấn đề.

Cảm giác vô vọng từ dữ liệu. Một người ghi chép trung thực trong ba tháng và nhìn thấy một đường phẳng "thấp" có thể đọc điều đó như một bản án chứ không phải một mức nền để phấn đấu vượt qua. Điều này dễ xảy ra hơn khi việc theo dõi là can thiệp duy nhất.

Bài tổng quan năm 2016 của Harari và cộng sự về dữ liệu hành vi từ điện thoại trên Perspectives on Psychological Science đưa ra một điểm lặng lẽ hơn nhưng đáng nhớ: chính hành động được đo lường làm thay đổi thứ được đo.6 Việc theo dõi hằng ngày định hình sự chú ý, cách đóng khung và trí nhớ theo những cách không phải lúc nào cũng trung tính.

Khi nào theo dõi tâm trạng nhiều khả năng giúp ích nhất

Một danh sách ngắn, rút ra từ các thử nghiệm ở trên:

Người dùng muốn có dữ liệu đó. Việc theo dõi bị áp đặt (do nhà lâm sàng yêu cầu, do thông báo của ứng dụng thúc ép) cho mức tuân thủ kém hơn và hiệu ứng yếu hơn so với việc theo dõi do chính người dùng khởi xướng.

Có can thiệp chủ động đi kèm. Các lời nhắc kiểu CBT (bản ghi suy nghĩ, gắn thẻ méo mó, gợi ý kích hoạt hành vi), những ghi chú được chia sẻ với nhà trị liệu, hoặc các kỹ năng ứng phó ngay tại khoảnh khắc. Bakker 2018 là minh chứng sạch sẽ nhất.4

Các bối cảnh lâm sàng cụ thể. Rối loạn lưỡng cực, đặc biệt trong giai đoạn ổn định và như một hệ thống cảnh báo sớm; các rối loạn khí sắc trong giai đoạn duy trì sau trị liệu; trầm cảm nơi kích hoạt hành vi là thành phần hoạt tính.

Gán nhãn cảm xúc tinh tế thay vì một thang tâm trạng 1–5. Các nhãn cụ thể ("bực bội", "xấu hổ", "thất bại") cho công việc nhận thức một chỗ để bám, và đó là cây cầu dẫn vào việc gắn thẻ méo mó nhận thức và các bản ghi suy nghĩ kiểu CBT.

Colors bao gồm những thành phần có bằng chứng tốt nhất – gán nhãn cảm xúc tinh tế, bản ghi suy nghĩ kiểu CBT, và việc ghi chú giữa các buổi qua luồng tái định khung – và bỏ qua những phần liên tục thất bại trong việc dịch chuyển kết quả (chuỗi ngày liên tiếp kiểu trò chơi, dự đoán tâm trạng bằng AI). Nó không thay thế trị liệu, và nghiên cứu đã rõ rằng chỉ theo dõi thôi, không hành động, thì hiệu ứng yếu. Còn như một cuốn nhật ký nhắc bạn làm công việc nhận thức và một bản ghi bạn có thể mang tới nhà lâm sàng, nó nằm đúng ở phần nền bằng chứng còn đứng vững.

Thử trong Colors

Colors là nhật ký tâm trạng và cảm xúc có phần tái cấu trúc suy nghĩ theo lối CBT – gọi tên điều bạn cảm thấy, đánh dấu chuyện đã xảy ra, và sau vài tuần thì thấy được quy luật của chính mình.

Tải trên App Store Tải trên Google Play

Câu hỏi thường gặp

Theo dõi tâm trạng có thực sự hiệu quả không?

Bằng chứng không đồng nhất và phụ thuộc rất nhiều vào việc "hiệu quả" nghĩa là gì. Việc tự theo dõi như một phần của can thiệp có cấu trúc (với các lời nhắc kiểu CBT, kích hoạt hành vi, hoặc theo dõi bởi nhà lâm sàng) cho thấy hiệu ứng đo được nhưng khiêm tốn lên triệu chứng trầm cảm và lo âu – thử nghiệm ngẫu nhiên năm 2018 của Bakker và cộng sự trên ba ứng dụng điện thoại tìm thấy cải thiện nhỏ đến vừa ở những ứng dụng có thành phần CBT. Chỉ theo dõi thôi, không có hướng dẫn hành động dựa trên dữ liệu, thì bằng chứng yếu.

Nghiên cứu nói gì về ứng dụng theo dõi tâm trạng cho rối loạn lưỡng cực?

Thử nghiệm MONARCA I (Faurholt-Jepsen và cộng sự, 2015, Psychological Medicine) phân ngẫu nhiên 78 bệnh nhân lưỡng cực vào sáu tháng tự theo dõi hằng ngày qua điện thoại so với nhóm đối chứng. Triệu chứng trầm cảm tự chấm giảm nhiều hơn đáng kể ở nhóm can thiệp, nhưng kết cục chính của thử nghiệm – triệu chứng do nhà lâm sàng chấm, tính gộp – thì không đạt ý nghĩa thống kê. Công trình trước đó của cùng nhóm (2014, Psychiatry Research) thấy dữ liệu hành vi ghi bằng điện thoại tương quan với mức độ nặng của triệu chứng lưỡng cực.

Theo dõi tâm trạng có thể làm mọi thứ tệ hơn không?

Có thể, với một số người. Việc tự theo dõi có thể nuôi sự nghiền ngẫm ở những người vốn hay nghiền ngẫm, và việc kiểm tra quá mức có thể trở thành một kiểu lo âu riêng. Bài tổng quan năm 2017 của Schueller, Aguilera và Mohr về các can thiệp tức thời trong đời sống ghi nhận những rủi ro này bên cạnh lợi ích. Cảm giác vô vọng cũng có thể tăng lên khi các mẫu hình phơi bày một quãng dài tâm trạng thấp mà không rõ nguyên nhân.

Theo dõi tâm trạng hằng ngày có tốt hơn viết nhật ký hằng tuần không?

Lấy mẫu thường xuyên hơn thì chính xác hơn với tư cách một phương pháp đánh giá – bài tổng quan năm 2009 của Trull và Ebner-Priemer cho thấy đánh giá tức thời trong đời sống nắm bắt được những mẫu hình cảm xúc mà hồi tưởng bỏ sót. Còn việc theo dõi thường xuyên hơn có tạo ra kết quả lâm sàng tốt hơn hay không lại là câu hỏi khác, và bằng chứng ở đó mỏng hơn. Với hầu hết người dùng, một lần ghi nhận mỗi ngày gắn với một gợi ý cụ thể là đủ.

Kiểu theo dõi tâm trạng nào nhiều khả năng giúp ích nhất?

Kiểu theo dõi gắn với hành động: bản ghi suy nghĩ kiểu CBT, gợi ý kích hoạt hành vi, lời nhắc áp dụng một kỹ năng cụ thể, hoặc những ghi chú được chia sẻ với nhà trị liệu. Bakker và cộng sự (2018) thấy các ứng dụng có những thành phần này tạo ra cải thiện triệu chứng đáng tin cậy; việc ghi nhận thụ động thì không. Một số nhóm lâm sàng cụ thể (rối loạn lưỡng cực giai đoạn ổn định, duy trì sau trị liệu, các rối loạn khí sắc có mẫu hình cảnh báo sớm) hưởng lợi rõ nhất.

Đây không phải lời khuyên y tế

Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và giáo dục. Nó không phải lời khuyên y tế và không thay thế việc tham vấn với chuyên gia sức khỏe tâm thần có giấy phép. Nếu bạn đang trong khủng hoảng, hãy liên hệ ngay với dịch vụ cấp cứu tại nơi bạn sống.

Đường dây hỗ trợ khủng hoảng: Việt Nam — Cấp cứu 115 · Quốc tế — Find a Helpline

Rà soát lần cuối: tháng 5 năm 2026.

Tài liệu tham khảo

  1. Faurholt-Jepsen, M., Frost, M., Vinberg, M., Christensen, E. M., Bardram, J. E., & Kessing, L. V. (2014). Smartphone data as objective measures of bipolar disorder symptoms. Psychiatry Research, 217(1–2), 124–127. doi:10.1016/j.psychres.2014.03.009
  2. Faurholt-Jepsen, M., Frost, M., Ritz, C., et al. (2015). Daily electronic self-monitoring in bipolar disorder using smartphones — the MONARCA I trial. Psychological Medicine, 45(13), 2691–2704. doi:10.1017/S0033291715000410
  3. Trull, T. J., & Ebner-Priemer, U. W. (2009). Using experience sampling methods/ecological momentary assessment (ESM/EMA) in clinical assessment and clinical research. Psychological Assessment, 21(4), 457–462. doi:10.1037/a0017653
  4. Bakker, D., Kazantzis, N., Rickwood, D., & Rickard, N. (2018). A randomized controlled trial of three smartphone apps for enhancing public mental health. Behaviour Research and Therapy, 109, 75–83. doi:10.1016/j.brat.2018.08.003
  5. Schueller, S. M., Aguilera, A., & Mohr, D. C. (2017). Ecological momentary interventions for depression and anxiety. Depression and Anxiety, 34(6), 540–545. doi:10.1002/da.22649
  6. Harari, G. M., Lane, N. D., Wang, R., Crosier, B. S., Campbell, A. T., & Gosling, S. D. (2016). Using smartphones to collect behavioral data in psychological science. Perspectives on Psychological Science, 11(6), 838–854. doi:10.1177/1745691616650285